Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ, chồng theo thỏa thuận của hai bên hoặc đơn phương từ một bên và được giải quyết tại Tòa án có thẩm quyền. Khi ly hôn, vấn đề về tài sản quan trọng cần được giải quyết, nếu bạn cũng đang thắc mắc về vấn đề, tài sản của vợ chồng sẽ được chia như nào khi ly hôn, hãy cùng tham khảo bài viết sau của Luật Tuệ An: Đất đứng tên chồng có được chia đôi khi ly hôn không?
Trước hết cần hiểu rõ về những tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng và quy định của pháp luật về quyền sử dụng sử hữu, quyền sử dụng tài sản của vợ chồng.
I. Căn cứ pháp lý
1. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
2. Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014;
3. Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 01/3/2016.
II. Quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của vợ chồng

Căn cứ Điều 34 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, được hướng dẫn bởi Điều 12 Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của vợ chồng như sau:
1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp tài sản chung của vợ chồng đã được đăng ký và ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì vợ, chồng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất để ghi tên của cả vợ và chồng.
3. Trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản mà pháp luật quy định phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.
III. Tài sản chung của vợ chồng
Căn cứ Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, được hướng dẫn bởi Điều 9, Điều 10 Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:
1. Tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân như khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp,…; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung của vợ chồng.
IV. Tài sản riêng của vợ chồng
Căn cứ Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, được hướng dẫn bởi Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định về tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm:
1. Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
V. Nguyên tắc phân chia tài sản của vợ chồng
Căn cứ quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, được hướng dẫn bởi Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 01/3/2016, tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được phân chia theo hai nguyên tắc sau:
1/ Phân chia tài sản theo thỏa thuận
Khi ly hôn, vợ chồng có quyền tự thỏa thuận với nhau về việc phân chia tài sản chung. Trường hợp, văn bản thỏa thuận không bị vô hiệu và vợ chồng có yêu cầu thì Tòa án sẽ áp dụng các nội dung của văn bản đã thỏa thuận để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.
2/ Phân chia tài sản theo pháp luật
Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được, thỏa thuận không rõ ràng hoặc văn bản thỏa thuận bị vô hiệu thì tài sản của vợ chồng sẽ được chia đôi nhưng có xem xét đến các yếu tố sau:
Thứ nhất, hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
Thứ hai, công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
Thứ ba, bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
Thứ tư, về yếu tố lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Ngoài ra, khi phân chia tài sản, vợ chồng sẽ được phân chia theo hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Từ những căn cứ nêu trên cho thấy, tài sản là nhà, đất phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì trên Giấy chứng nhận phải ghi tên cả hai vợ chồng. Trừ trường hợp, vợ chồng có thỏa thuận chỉ một bên đứng tên thì tài sản đó vẫn là tài sản chung của vợ chồng.
Như vậy, để xác định được nhà, đất là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng thì cần căn cứ vào nguồn gốc và thời điểm hình thành của tài sản mà không phụ thuộc vào việc một bên hay cả hai vợ chồng đứng tên trên giấy chứng nhận. Trong trường hợp, chỉ một bên chồng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hình thành trong thời kỳ hôn nhân nhưng chồng không có căn cứ để chứng minh nhà, đất là tài sản riêng thì nhà, đất đó được coi là tài sản chung của cả hai vợ chồng và được giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ngược lại, nhà đất được hình thành trước thời kỳ hôn nhân do chồng đứng tên và không có thỏa thuận nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của hai vợ chồng, có căn cứ chứng minh nhà, đất là tài sản riêng của chồng thì lúc này vợ sẽ không được chia tài sản khi ly hôn.
VI. Vợ có được chia nhà đất mà chồng đứng tên nhà đất khi ly hôn không?

Tại Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:
Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung
1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này.
Căn cứ quy định được trích dẫn trên đây thì về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng mà thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng.
Trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác về việc để một bên vợ hoặc chồng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản đó thì thực hiện theo thỏa thuận đó.
Mặt khác, tại khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:
Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng…
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Căn cứ quy định được trích dẫn trên đây trường hợp tài sản vợ, chồng đang có tranh chấp mà vợ, chồng bạn không có căn cứ để chứng minh tài sản đó là tài sản riêng hợp pháp của mình thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Trường hợp nhà đất mà vợ chồng mua nhưng chỉ có chồng bạn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng, nếu chồng bạn không chứng minh được đó là tài sản riêng của mình thì dưới góc độ pháp lý, các tài sản đó vẫn được xác định là tài sản chung của vợ chồng bạn trong thời ký hôn nhân.
Theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì trường hợp đời sống hôn nhân của vợ, chồng lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì vợ, chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên (nếu một bên không đồng ý) hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn (cả hai bên đều đồng ý).
Trường hợp vợ chồng bạn trong cuộc sống hôn nhân không mang lại hành phúc cho đôi bên và đôi bên không thể hòa giải được trong quá trình chung sống với nhau thì bạn hoặc chồng bạn hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn ly hôn theo quy định của pháp luật.
Hai vợ chồng tự thỏa thuận với nhau các vấn đề liên quan đến con cái, tài sản chung và các vấn đề khác liên quan đến quyền và nghĩa vụ của nhau khi ly hôn. Nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Kết luận: Từ các dẫn chứng trên đây có thể xác định trường hợp nhà đất mà vợ chồng mua nhưng chỉ có chồng bạn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng, nếu chồng bạn không chứng minh được tài sản đó là tài sản riêng của chồng bạn thì các tài sản là nhà, đất đó được coi là tài sản chung của vợ chồng bạn. Trường hợp khi ly hôn thì vợ chồng bạn có thể tự thỏa thuận về việc chia nhà, đất này. Nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án chia theo quy định.
Trên đây là tư vấn của Tuệ An LAW về: Đất đứng tên chồng có được chia đôi khi ly hôn không? theo quy định của pháp luật mới nhất. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác, vui lòng liên hệ ngay Luật sư để được tư vấn miễn phí. Luật sư chuyên nghiệp, tư vấn miễn phí – 098.421.550.
Một số bài viết liên quan:
Vợ đứng tên nhà đất khi ly hôn có phải chia cho chồng không?
Tuệ An Law cung cấp thông tin về giá dịch vụ như sau:
Luật sư tư vấn online qua điện thoại: Miễn phí tư vấn.
Dịch vụ luật sư tư vấn trực tiếp tại văn phòng: Từ 500.000 đồng/giờ tư vấn của Luật sư chính.
Dịch vụ Luật sư thực hiện soạn thảo giấy tờ pháp lý như đơn khởi kiện về việc ly hôn, thu tập chứng cứ,…
Nhận đại diện theo uỷ quyền làm việc với cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
Cử Luật sư thực hiện các thủ tục pháp lý tại Toà án; Tham gia bào chữa tại Toà án;
Các dịch vụ pháp lý liên quan khác.
Phí dịch vụ tư vấn, thực hiện các thủ tục pháp lý sẽ được điều chỉnh tuỳ vào từng việc cụ thể. Liên hệ ngay đến số điện thoại 094.821.550 để được Luật sư chuyên môn tư vấn pháp luật miễn phí.
Liên hệ Luật sư Ly Hôn nhanh – Tuệ An Law
Nếu bạn cần giải đáp thắc mắc Đất đứng tên chồng có được chia đôi khi ly hôn không? . Hãy xem một số bài viết của chúng tôi hoặc bạn có thể liên hệ đến Tuệ An Law theo các phương thức sau:
Điện thoại (Zalo/Viber): 094.821.550
Website: http://tueanlaw.com/
Email: [email protected]